Trang chủ   >  Trang chủ

Tìm cơ hội từ làn sóng fintech

Bắt đầu được nhắc đến nhiều ở Việt Nam từ năm ngoái, công nghệ tài chính (fintech) được đánh giá là làn sóng ngày càng phát triển nhanh và sẽ giúp định dạng lại ngành công nghiệp tài chính trong nước, giúp mở rộng hướng và diện tiếp cận thị trường, khách hàng của các ngân hàng.

Vân Ly

Tại Diễn đàn Thanh toán điện tử 2016 vừa diễn ra vào tháng trước, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia Vũ Viết Ngoạn cho rằng toàn bộ các mô hình và phương thức cung ứng dịch vụ tài chính đang có sự thay đổi lớn, cách thức người tiêu dùng tiếp nhận dịch vụ tài chính cũng thay đổi. Fintech ra đời sẽ giúp nhiều người tiêu dùng có thể tiếp cận những dịch vụ tài chính - ngân hàng thông qua chiếc điện thoại cầm tay, hoặc hỗ trợ họ một cách đắc lực trong quá trình sử dụng dịch vụ.

Đi theo xu hướng thế giới

Tại diễn đàn nói trên, ông Bùi Quang Tiên, Vụ trưởng Vụ Thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho biết sự xuất hiện của các công ty fintech ở Việt Nam trong thời gian gần đây là đi theo xu hướng phát triển của các giải pháp thanh toán không sử dụng tiền mặt và xu hướng khởi nghiệp công nghệ mạnh mẽ trên toàn cầu. Đa phần các công ty fintech cung cấp dịch vụ hỗ trợ trong ngành ngân hàng, trong đó có dịch vụ thanh toán.

Theo ông Tiên, các ngân hàng trong nước ít có thế mạnh về công nghệ thông tin để tự phát triển hệ thống thanh toán của riêng mình. Một số ngân hàng có chú trọng đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển các giải pháp công nghệ nhưng hiệu quả lại không cao. Do đó, sự ra đời của các công ty fintech sẽ giúp cho người tiêu dùng tiếp cận dễ dàng hơn với các dịch vụ ngân hàng và các phương tiện thanh toán mới, đồng thời giúp cho các ngân hàng giảm bớt chi phí đầu tư về hạ tầng công nghệ thông tin mà vẫn thực hiện được mục tiêu đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ.

Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, hiện có 16 tổ chức không phải là ngân hàng được cấp giấy phép cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, trong đó có một tổ chức cung ứng dịch vụ chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử là Công ty cổ phần Thanh toán quốc gia (NAPAS) và 15 tổ chức cung ứng dịch vụ cổng thanh toán điện tử, hỗ trợ thu hộ, chi hộ, chuyển tiền điện tử và ví điện tử.

Ông Phan Thanh Sơn, Phó tổng giám đốc ngân hàng Techcombank, nói rằng fintech đã bùng nổ trên toàn cầu từ năm 2010, hiện thu hút nguồn vốn đầu tư lên đến 200 tỉ đô la và xu hướng này sẽ còn tiếp tục với sự thâm nhập ngày càng mạnh mẽ vào nhiều lĩnh vực. Đồng tình với quan điểm của ông Sơn, ông Trần Hữu Đức, Giám đốc FPT Venture, đồng chủ tịch Câu lạc bộ fintech Việt Nam, cho rằng fintech là một xu thế không thể kìm hãm sự phát triển, cũng giống như Internet.

Ở góc nhìn của một chuyên gia công nghệ có nhiều năm kinh nghiệm về fintech, ông Nguyễn Hòa Bình, Chủ tịch NextTech Group of Technopreneurs (tiền thân là PeaceSoft), nói rằng các phần mềm ứng dụng fintech trên thế giới khá đa dạng, tác động đến hầu hết mọi mảng hoạt động của ngành tài chính - ngân hàng như tiền gửi, thanh toán, bảo hiểm, tín dụng tiêu dùng và tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ… Trong khi đó, bức tranh fintech ở Việt Nam hiện nay còn khá đơn điệu, các phần mềm ứng dụng chủ yếu phục vụ cho hoạt động thanh toán điện tử và mới chỉ nở rộ hơn một năm gần đây khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính thức cấp giấy phép cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cho các doanh nghiệp tư nhân.

Ông Jan Bellens, Phó tổng giám đốc phụ trách các thị trường mới nổi toàn cầu, thị trường ngân hàng và vốn của hãng Ernst & Young, nói rằng Việt Nam là một thị trường rất hấp dẫn đối với các công ty fintech bởi sở hữu những đặc điểm thú vị là chưa có nhiều người sử dụng dịch vụ ngân hàng và đây là một khoảng trống, nếu có công nghệ có thể đáp ứng được nhóm khách hàng này theo hướng tiết kiệm chi phí. Bên cạnh đó, tương lai khá sáng sủa cho các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực fintech ở Việt Nam, do tại đây có nhiều ngân hàng bán lẻ và trong nghiệp vụ ngân hàng còn tồn tại nhiều thủ tục giấy tờ.

Gian nan giai đoạn ban đầu

Ông Vũ Viết Ngoạn nhận xét sự ra đời của fintech ở Việt Nam gặp khá nhiều sự thách thức. Trước tiên, fintech sẽ cạnh tranh với các tổ chức tài chính hiện hữu. Ngoài ra, fintech với khái niệm mới, sản phẩm mới chưa được chế định trong khuôn khổ pháp lý hiện nay sẽ buộc cơ quan đảm nhiệm chức năng điều tiết thị trường phải nghiên cứu để đưa ra giải pháp hợp lý.

Trên thực tế, phần lớn các nhà cung ứng dịch vụ công nghệ tài chính hiện vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong việc bảo đảm doanh thu và lợi nhuận.

Ông Sơn của Techcombank cho rằng các công ty fintech ở Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn ban đầu nên các sản phẩm vẫn còn khá sơ khai, đa số tập trung vào mảng thanh toán – một phần rất nhỏ trong sân chơi công nghệ tài chính. Thêm vào đó, người tiêu dùng vẫn còn giữ thái độ thận trọng với các sản phẩm và dịch vụ mà công ty fintech cung cấp. Hệ thống pháp lý cũng chưa theo kịp đà phát triển của các công ty fintech - đây cũng là rào cản lớn cho những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này. Ví dụ như năm 2009, loại hình ví điện tử đã được cấp giấy phép hoạt động thí điểm, nhưng mãi đến cuối năm 2015 mới có bốn công ty được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ thanh toán và ví điện tử.

Thế nhưng, ông Sơn nhận định những rào cản kể trên sẽ nhanh chóng bị phá vỡ khi lĩnh vực này nhận được ngày càng nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư, của các cơ quan quản lý cũng như sự năng động và nhanh chóng đổi mới của chính các công ty fintech. Như một hệ quả tất yếu, các định chế tài chính truyền thống, đặc biệt là ngân hàng, sẽ cảm nhận được mối đe dọa từ fintech. Theo một cuộc khảo sát trên phạm vi toàn cầu mới đây của hãng PwC, 83% định chế tài chính truyền thống lo ngại rằng một phần hoạt động kinh doanh của họ có nguy cơ rơi vào tay công ty fintech. Trong vòng năm năm tới, 24% thị phần của các ngân hàng trong mảng chuyển tiền và thanh toán sẽ rơi vào tay các công ty fintech.

Từ sự phân tích như trên, theo ông Sơn, các công ty fintech và ngân hàng đều sở hữu những thế mạnh riêng biệt và bổ sung cho nhau, và việc hợp tác giữa hai bên sẽ khiến cho ngành tài chính - ngân hàng lột xác và thay đổi nhanh chóng. Công ty fintech sẽ tiếp cận với nguồn khách hàng của ngân hàng và được hỗ trợ bởi nguồn vốn dồi dào từ ngân hàng để có thể đẩy mạnh và hoàn thiện sản phẩm và dịch vụ. Còn ngân hàng thì mang lại những sự trải nghiệm mới mẻ và tiện ích hơn tới khách hàng, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ và chạm được đến các thị trường mà trước đây do hạn chế về cơ sở vật chất, kỹ thuật đã bỏ quên.

“Công ty fintech như một cánh tay nối dài của ngân hàng, là đối tác để giúp ngân hàng đưa ra những giải pháp tiên tiến hơn cho sản phẩm và dịch vụ”, ông Sơn nói.

Trong khi đó, ông Jan Bellens của Ernst & Young cho rằng việc hợp tác với các công ty fintech làm tăng độ rủi ro cho các ngân hàng. Vị chuyên gia này phân tích rằng khi các ngân hàng thực hiện việc hợp tác với các công ty fintech, đặc biệt là với công ty ít tên tuổi, có thể sẽ phải đối mặt với một số rủi ro trong hoạt động. Do đó, khi hợp tác với các công ty fintech, ngân hàng cần rà soát các đặc điểm và chức năng của sản phẩm mới để tránh các ảnh hưởng tiềm tàng về mặt pháp lý. Việc này nhằm bảo đảm cho ngân hàng không bỏ sót các quy định mới cũng như việc tuân thủ các quy định hiện hành không bị ảnh hưởng. Quản lý rủi ro pháp lý là điều đặc biệt quan trọng vì các tổ chức phi ngân hàng có thể không được chuẩn bị đầy đủ các chính sách an ninh toàn diện và quy định về tài chính của các tổ chức này lỏng lẻo hơn của các tổ chức tín dụng truyền thống.

Thêm nữa, việc giao những công việc nhất định cho một bên thứ ba thực hiện, bất kể tự động hay thủ công, sẽ tạo ra những rủi ro mới. Mặc dù không có quyền quản lý trực tiếp, nhưng ngân hàng vẫn phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về pháp lý nếu rủi ro phát sinh. Do đó, ngân hàng cần chặt chẽ hơn khi đánh giá các đơn vị cung cấp công nghệ, đồng thời cần thực hiện các biện pháp quản lý và thẩm định rủi ro. Điều này cũng bao gồm việc lập kế hoạch kinh doanh dự phòng để giảm thiểu sự gián đoạn trong việc cung cấp dịch vụ hay công nghệ (nếu có sự cố).

Tìm cách giảm thiểu rủi ro

Các giải pháp để giảm thiểu rủi ro cho dự án fintech được ông Jan Bellens đưa ra bao gồm việc hoàn thiện chiến lược an ninh mạng, quản lý việc nhận dạng và quyền truy cập và các biện pháp xác minh một cách hữu hiệu các hoạt động nội bộ có tính chất nhạy cảm và cần bảo mật cao. Việc thực hiện các dự án cần phải được thử nghiệm trong một môi trường hoàn toàn riêng biệt nhằm đảm bảo rằng nếu thất bại, chúng sẽ không có tác động quá nghiêm trọng lên hoạt động của ngân hàng hay gây ảnh hưởng lên các bộ phận khác.

“Nhìn chung, quản trị rủi ro liên quan đến công ty fintech là một vấn đề hết sức quan trọng, nó phải bảo đảm rằng ngân hàng bảo vệ được thương hiệu, dữ liệu khách hàng cũng như đem lại những sự trải nghiệm về dịch vụ tiện ích nhất cho khách hàng. Việc hợp tác hay kết hợp với các công ty fintech mặc dù sẽ làm gia tăng các rủi ro mà các ngân hàng phải đối mặt, nhưng đồng thời mang đến nhiều cơ hội phát triển tiềm năng cho ngành ngân hàng. Vấn đề quan trọng là các ngân hàng cần thực hiện việc quản lý các rủi ro có liên quan một cách phù hợp và hữu hiệu,” ông Jan Bellens nói.

Ông Bùi Quang Tiên cho hay, hiện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang xây dựng bản đề án phát triển hệ thống thanh toán không sử dụng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020, trong đó hướng đến việc phát triển một số phương tiện và hình thức thanh toán mới, hiện đại, phục vụ cho khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa; hoàn thiện hành lang pháp lý, cơ chế chính sách để khuyến khích các công ty fintech tham gia hỗ trợ các ngân hàng nhằm phát triển phù hợp với xu hướng thế giới.


tin khác

Khi tên miền gắn với quyền lợi doanh nghiệp
Theo sự phân tích của các chuyên gia thương mại điện tử, tên miền (domain name) sẽ gắn liền với thương hiệu của doanh nghiệp trên môi trường Internet, do đó các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này sẽ phải đầu tư nhiều hơn vào tên miền, nội dung trang web, hoạt động quảng bá thương hiệu…
Cả thế giới mua sắm nằm trong chiếc điện thoại
Trong dịp Black Friday diễn ra hôm 25-11 vừa qua, người tiêu dùng Mỹ đã bỏ ra tới 1,2 tỉ đô la để mua sắm hàng hóa thông qua điện thoại thông minh và máy tính bảng. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, thế giới mua sắm dường như đã được thu vào trong một chiếc điện thoại nhỏ gọn.

Next